Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Cố gắng lừa dối cảm xúc là thất bại lớn nhất trong đời bạn

Khi bạn mơ mộng, khao khát, và rực cháy niềm tin vào điều gì đó lớn lao thì hãy cứ tiếp tục và duy trì điều đó. Bạn đừng sợ mình khác với mọi người- lẽ ra bạn phải rất vui vì điều đó vì bạn được là chính mình, nhưng để luôn duy trì lý tưởng không phải dễ. Bạn bị cài vào tiềm thức từ nhỏ là phải làm theo những gì mà số đông xã hội làm, đột nhiên 1 ngày bạn mệt mỏi nhận ra những thứ đó không phải điều mình thực sự mong muốn trong cuộc đời=> Bạn mất phương hướng, bất an, sống ngày qua ngày với  cảm xúc hời hợt, bạn cố lấy chuẩn mực xã hội để trấn an mình,là so với xã hội mình đã đạt được cái này, cái kia...NHƯNG có chắc đó là con người bạn?. Nếu bạn cứ chạy theo bên ngoài nhiều quá, mà không quay lại "tâm sự"với chính bản thân mình thì bạn sẽ KHÔNG BAO GIỜ chạm được vào HẠNH PHÚC THỰC SỰ. Ở trạng thái đam mê, cảm xúc sẽ kết hợp với trí tuệ, chứ không phải hoặc là SI MÊ, hoặc là LÝ TRÍ.

Tôi có nghe bài hát " Ban mai xanh" - 1 bài hát rất nhiều cảm hứng, sự nhiệt huyết, tình yêu cuộc sống mà tác giả đã gửi gắm. 

Lời bài hát đầy ý nghĩa, động lực- Mỗi khi mệt mỏi, nghe bài hát này tôi muốn đứng dậy hành động ngay lập tức.  This is the lyrics

Với ước mơ về phía mặt trời xanh  
Cùng tình yêu trao em đắm say
Sáng trong tôi rực cháy một niềm tin
Đời bao la đón tôi vào lòng. 
Dù bao nhiêu gian khó chuyện buồn vui
Ngậm ngùi cùng trái đắng với niềm tin
Tình yêu cho trong sáng, ngọt ngào
Và bên nhau, bên nhau mãi mãi.
(CHORUS*2)    
Với ước mơ về phía mặt trời xanh           
 Người yêu nhau sẽ đến với nhau
 Mãi trong tôi mơ đến một ngày mai
Cùng em yêu bước chân vào đời.


Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

How to Get Rid of Bad Habits



Let's face it, all of us have our own bad habits. We may bite our nails or crack our knuckles. Some of us interrupt people often or procrastinate. All these nasty habits are hard to break. But have no fear! This article will teach you how to get rid of your bad habits.
EditSteps
1.      1
Realize habits have consequences and rewards. Frequent practices of your habits, good or bad, have a long term effect on you whether you like it or not. Negative Ex. A few cigarettes over a few months means nothing compared to tens thousand of cigarettes used over your life time. Positive Ex. Focusing yourself on personal development and building your social circle.

2.      2
Recognize the bad habit you want to break. Knowing and understanding the habit will help you to gain control of it. If you don't believe you have a bad habit or you don't get why "some things" just keep happening to you over and over, get feedback from people outside your normal social circle. Others may recognize patterns that you misconstrue as "that's just how I am."

3.      3
Decide how serious you are about breaking the habit. If you are truly committed, you will be able to achieve your goal.

4.      4
Track when you do the habit. Perhaps keep a journal handy.

5.      5
Write down where and why you do the habit. Writing increases your awareness of the habit.

6.      6
Think about what you wrote. What does this habit do for you?

7.      7
Think about a healthy habit that you could replace your bad habit with. Write down simple alternative and choose one you would like to practice.

8.      8
Catch yourself doing the bad habit and stop yourself. Practice the healthy habit instead.

9.                                           9
Practice this exercise weekly or as often as you want. Practice will gradually turn a good behaviour into a habit.


·         Pretend your crush is watching you. Would you bite your nails or crack your knuckles around that special someone?
·         Be patient. You cannot break a habit overnight! They are so automatic, sometimes you may not even realize you are doing it!
·         Be kind to yourself. Beating yourself up over accidentally doing the bad habit will not help you.
·         Read about your habit. The hard realities of your habit and its consequences can compel you not to do it. For example, Wikipedia articles often have a "Health Risks" section of various practices and substances. It also helps by giving you a sense of clarity. You need to see the big picture, the bad and the good.
·         Use something like a rubber band. Whenever you catch yourself, snap the rubber band on your wrist.
·         Be more interesting and motivated when giving comment.
·         Get support from others. Tell them what they can do to help you. This will make it easier to achieve your goals.

s

CHÌA KHOÁ THÀNH CÔNG: IQ HAY EQ - AQ - PQ - SQ - CQ?

Description: http://www.laspa.com.vn/a/images/chiakhoatq.jpgLời dẫn:
IQ là một sinh viên giỏi và thông minh. Cậu luôn có điểm số cao ở hầu hết các môn học và là người đứng đầu trong các kỳ thi. Tuy vậy tính của IQ tự cao, khó gần. Khi ra trường IQ được nhiều công ty mời chào nhưng kết quả của các cuộc phỏng vấn lại không khả quan. Đã bảy năm kể từ khi ra trường, IQ vẫn chưa làm được những gì cậu mong muốn.

Trái với IQ, thời còn đi học EQ không phải là sinh viên giỏi, gia đình đông anh em và rất nghèo. Tuy nhiên với tính cách hòa đồng, tốt bụng hay quan tâm giúp đỡ người khác, cậu rất được bạn bè quý mến và tin yêu. Khi ra trường, EQ không có nhiều lời mời phỏng vấn như IQ nhưng kết quả cậu cũng đã tìm được một công việc yêu thích. Hiện tại, với vị trí trưởng phòng, được ban lãnh đạo công ty tin cậy, đồng nghiệp và khách hàng quý mến, EQ đang có một tương lai sáng sủa. 

Trong cuộc sống chúng ta gặp không ít những câu chuyện như vậy. Tại sao người ít thông minh lại thành công hơn người giỏi hơn mình? Có phải do họ may mắn, làm việc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt? Hãy đi tìm câu hỏi cho chính mình !

Chỉ số thông minh (IQ) và thông minh cảm xúc (EQ)?
Bạn tự hào về chỉ số IQ (Intelligence Quotient – chỉ số thông minh) của mình. Nó thể hiện trí thông minh “thô” của bạn, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, nó chỉ là một yếu tố nhỏ tạo nên thành công.
Bắt đầu hình thành từ năm 1912, khái niệm IQ đã “thống trị” khá lâu trong quan niệm về thước đo phẩm chất dẫn đến thành công của con người.
IQ theo quan niệm phổ thông, thường được mặc định song hành với khả năng tư duy. Tuy nhiên, sau này, nhà tâm lý học Howard Garner đã mở rộng khái niệm IQ, khi chứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thành công của một người.
Trí thông minh (Intelligence) được đo bằng hệ số IQ – Intelligence Quotient. IQ đo lường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống, năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ… Trí thông minh có thể được đo tổng quát trong mọi lĩnh vực, và được đo theo từng lĩnh vực cụ thể.
Tuy nhiên càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói: “Với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient – EQ). EQ đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng của một người trong cảm nhận, đánh giá, và quản lý cảm xúc của bản thân, của người khác hay của một nhóm người.
Trong một thời gian dài người ta dùng chỉ số IQ để tìm kiếm người tài vì tin rằng người có IQ cao sẽ có xác suất thành công cao hơn người khác. Tuy vậy một số nghiên cứu khoa học lại cho thấy chỉ 25% số người thành công là có chỉ số IQ cao hơn trung bình. Nghĩa là chỉ số IQ không giải thích được sự thành công vượt trội của 75% số người còn lại. Kết quả nghiên cứu đã loại yếu tố về năng lực chuyên môn. Cuối cùng những người nghiên cứu khẳng định rằng chỉ số EQ mới là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta.
Năng lực cảm xúc trong môi trường làm việc?
Trong khi chỉ số thông minh ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh cảm xúc có thể được “học” và thay đổi vào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào. Để thành công trong môi trường làm việc, ông Daniel Goleman - người được xem là nhà nghiên cứu hàng đầu về EQ hiện nay đã đề xuất chúng ta phải có những năng lực xúc cảm cá nhân gồm: năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự điều chỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội..
Năng lực tự nhận biết cảm xúc bản thân giúp chúng ta hiểu rõ cảm xúc hiện tại của mình và giúp chúng ta nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quả công việc của mình. Biết tự đánh giá bản thân còn giúp chúng ta hiểu điểm mạnh, điểm yếu của mình, giúp chúng ta can đảm thể hiện những suy nghĩ chưa được chấp nhận, và dám một mình theo đuổi cái đúng. Trong khi đó,năng lực tự điều chỉnh giúp chúng ta kềm giữ mọi cảm xúc bốc đồng của bản thân, giữ được sự bình tĩnh, lạc quan ngay cả trong những thử thách khó khăn nhất.
Đối với những người có năng lực tạo động lực, họ thường xem kết quả của công việc là thước đo cuối cùng cho sự thành bại. Chính vì thế họ luôn cố gắng phát triển bản thân và mong muốn vượt qua hay ít nhất đạt được những tiêu chuẩn hoàn hảo. Những cá nhân này luôn tìm thấy mục tiêu của bản thân trong mục tiêu của tập thể. Họ luôn chú ý đến giá trị, mục tiêu của tổ chức trước khi ra quyết định.
Bên cạnh một số năng lực kể trên, có những người còn có khả năng thấu cảm người khác. Họ có thể cảm nhận, dự đoán được cảm xúc và hoàn cảnh của người khác, có khả năng bày tỏ sự quan tâm của mình một cách chủ động đối với người khác. Hoặc cũng có người có năng lực phát triển người khác. Họ có năng lực cảm nhận được nhu cầu phát triển bản thân của người khác, sẵn sàng kèm cặp, hỗ trợ cho những người đó phát triển.
Nói đến năng lực giao tiếp xã hội của một người, chúng ta có thể kể đến năng lực truyền đạt thông tin, năng lực quản lý xung đột, năng lực lãnh đạo hay năng lực tạo sự thay đổi, năng lực hợp tác với người khác…
Người có năng lực quản lý sự xung đột có khả năng “xử lý” những tình huống căng thẳng một cách êm đẹp. Họ có khả năng thương thuyết và giải quyết những mối bất hòa, đưa ra giải pháp để hai bên cùng thắng. Trong khi đó người có năng lực lãnh đạo sẽ tạo cảm hứng cho mọi người làm việc, làm cho họ tin và hướng theo một tầm nhìn, một mục tiêu chung. Dù ở vị trí nào họ cũng sẵn sàng tiến lên để nhận lãnh trách nhiệm, họ tạo ảnh hưởng lên người khác bằng chính những hành động của mình. Còn người cónăng lực hợp tác luôn tạo ra một môi trường làm việc vì mục đích chung, trong đó mọi người đều có cơ hội để phát triển.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.
Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội.
Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Ngoài ra, người ta còn dùng các chỉ số khác để đánh giá khả năng thành công của con người, đó là các chỉ số: AQ, PQ, SQ và CQ..
 
Chỉ số vượt khó – AQ?
Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn sách “Adversity Quotient: Turning Obstacles into Opportunities” (AQ: Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội). Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn. Tại sao một số người trở nên xuất chúng, rất thành công, trong khi những người khác lại nản lòng, thất bại cho dù họ có thừa thông minh hoặc tư cách tốt? Điểm khác nhau giữa họ chính là sự chênh lệch về AQ – khả năng đương đầu và đương đầu có hiệu quả trước bất hạnh và nghịch cảnh.
Trong cuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient @ Work, bàn kỹ hơn về vấn đề tương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng khái niệm AQ, để có thể mang lại lợi ích.
Paul Sloltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm lý học đi trước, như Abraham Maslow, tác giả của tháp Maslownổi tiếng; từ Martin Seligman, tác giả của sách “Học lạc quan”, vàStephen R. Covey, tác giả của “7 thói quen của người thành đạt“.
Nhiều nhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳng định, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thề làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ).
Paul Sloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai.
Ông phân định ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Đó là: Quitter, Camper và Climber.
1. Quitter: Là những người dễ buông xuôi. Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1 công việc, 1 dự định và cao hơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, và nhận thất bại, hoặc kết quả không như ý.
2. Camper: Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ.
3. Climber: Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn. Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng thường là tuýp người không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn.
Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con người.
Theo Paul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống: 
1.          -  Đối diện khó khăn
2.          -  Xoay chuyển cục diện
3.          -  Vượt lên nghịch cả
4.          -  Tìm được lối ra

Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm “fix”, có nghĩa là phần nhiều thuộc về “thiên phú”, khó có khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện để “cải thiện, nâng cấp”. 
 
Chỉ số say mê – PQ?
Bạn tự hào là người có chỉ số thông minh IQ cao. Nhưng theo các nhà khoa học, nếu có chỉ số đam mê PQ (Passion Quotient) thấp, bạn sẽ khó mà thành công. Sự đam mê là ngọn lửa thổi bùng lên lòng nhiệt huyết, khiến mỗi chúng ta không ngừng khám phá những tiềm năng vô tận ẩn sâu trong mỗi con người.
PQ là chỉ số chỉ sự say mê của mỗi người dành cho việc anh ta làm, gọi tắt là chỉ số say mê (PQ). Có người đã ví von rằng: “Chỉ số IQ giống như một đoạn mạch ADN rất vững chắc và rất khó để cải thiện. Còn chỉ số PQ là chất lửa trong mỗi con người, chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh được ngọn lửa đó.”
Chỉ số PQ của con người không thể đo lường một cách chính xác. PQ không thể hiển thị dưới dạng con số hay thống kê như IQ, nó chỉ mang tính ước đoán, hàm ý và tượng trưng.
Người có chỉ số PQ cao là một tài sản quý
Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari - nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ – cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là: yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình.
Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất “ham địa vị” như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực.
Trong công việc, những nhân viên làm việc với lòng say mê cao là những người được các sếp quý trọng. Ngọn lửa say mê đến từ định hướng đúng trong công việc, chọn nghề phù hợp với năng lực và sở trường, vào trí thông minh của mỗi người. Những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Những phẩm chất thường thấy ở họ là:
– Yêu thích công việc mình làm.
– Luôn toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc đạt chất lượng cao.
– Thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí.
– Họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc ngay cả trong lúc nghỉ ngơi, nên họ thường tìm ra được những giải pháp độc đáo và sáng tạo. 
– Họ luôn luôn nghĩ đến việc sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian.
Virender Kapoor, tác giả quyển sách “The Greatest Secret of Success: Your Passion Quotient” (Bí mật lớn nhất của thành công: chỉ số say mê) cho rằng “Chất lửa trong con người, hay chính là chỉ số say mê, đã đóng góp rất nhiều cho những thành tựu kỳ diệu của nhà khoa học thiên tài Albert Einstein hơn cả chỉ số IQ của ông.”

SQ – Thông minh xã hội?
Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội (Social Intelligence), xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ).
Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể...
Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội.
 
Chỉ số thông minh sáng tạo – CQ?
Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo (Creative Intelligence – CQ). Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại.
Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản: “Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng”. Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể “rèn luyện” được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái “loé sáng” trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra “cái vỗ nhẹ” đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên ‘Tư duy sáng tạo” nhằm mục đích này.
  
Lời kết
Đọc những điều vừa kể chắc hẳn bạn sẽ nghĩ rằng, những năng lực trên tuy nghe hết sức bình thường nhưng lại là những phẩm chất lý tưởng của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc, đó là những phẩm chất mà chúng ta mong muốn có cho bản thân mình..cũng là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho mọi người. 
Dù ở độ tuổi nào, mỗi người đều có tiềm năng để phát triển những năng lực trên. Đừng quá ỷ lại vào trí thông minh, trình độ chuyên môn mà nên tập trung nhiều hơn đến việc phát triển chỉ số EQ, phát triển năng lực cảm xúc của bản thân trong môi trường làm việc. Cũng như Chỉ số vượt khó ( AQ), Chỉ số say mê ( PQ), Thông minh xã hội ( SQ), Chỉ số thông minh sáng tạo ( CQ). Từ từ chúng ta sẽ nhận biết, quản lý bản thân tốt hơn, hiểu biết và giao tiếp với người khác hiệu quả hơn, và chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong công việc và cuộc sống! 


Bốn câu hỏi quan trọng của cuộc đời bạn


Bốn câu hỏi quan trọng của cuộc đời bạn

Có một câu nói rằng: “Điều hối tiếc nhất trước khi chết là đã không làm được những điều mình mong muốn”. Vậy thì còn đợi gì nữa nhỉ? Một trong những cuốn sách cực kỳ hay của Jimronh nói về 4 câu hỏi lớn trong cuộc đời.
1. Câu hỏi thứ nhất : “Tại sao bạn cần phải cố gắng?”
Những đứa trẻ vẫn thường đưa ra câu hỏi “Tại sao?”. Và đây là câu hỏi quan trọng trong chuỗi các câu hỏi “Tại sao ?”. Tại sao cần phải dậy sớm hơn? Tại sao phải làm việc miệt mài ? Tại sao cần phải đọc nhiều sách đến vậy? Tại sao cần có nhiều bạn? Tại sao cần phải đi xa đến thế? Tại sao cần phải làm ra nhiều tiền như thế? Tại sao phải từ chối nhiều điều đến vậy?
Câu trả lời tốt nhất cho câu hỏi “Tại sao bạn cần phải cố gắng?” chính là câu hỏi thứ 2
2. Câu hỏi thứ hai: “Tại sao không?”
“Tại sao không?” Bạn đang định làm gì với cuộc đời của mình? Tại sao không thử xem bạn có thể đi xa được đến đâu? Tại sao không xem thử bạn có thể kiếm được nhiều tiền như thế nào, hay là đọc được nhiều, có thể chia sẻ nhiều ra sao? Tại sao không xem thử bạn có thể trở thành người như thế nào, bạn có thể trưởng thành đến đâu? Tại sao không? Dù sao thì bạn cũng sẽ có mặt trên trái đất này cho đến khi khuất bóng. Tại sao bạn không sống theo phong cách mà bạn chọn? Câu hỏi thứ 3 sẽ xa hơn.
3. Câu hỏi thứ ba: “Tại sao không phải là Bạn?”
Có những người làm được những điều kỳ diệu với xuất phát bình thường, có không ít người tiến hành các công việc vô cùng thành công…Tại sao không phải là bạn?Tại sao không phải là bạn đang ngắm cảnh sương mù ban mai trên biển Hibrid, ở Ái Nhĩ Lan hay ở Tô Cách Lan? Tại sao không phải là Bạn đang đắm chìm trong lịch sử ở nhà hát Touer thành Luân Đôn, hay đang nghiên cứu những bí mật của kinh đô Peter ở Tay Ban Nha? Tại sao không phải là Bạn đang ăn trưa và thưởng thức cà phê trên con đường Champs Elissees nổi tiếng của Paris hoa lệ? Tại sao không phải là bạn?
Không có gì có thể sánh được với cuộc dạo chơi trong phòng gương của lâu đài Versailles hay là so với cảm giác khi đứng trước bức tranh “Mona Lisa” nổi tiếng trong bảo tàng Louvre!
Tại sao không phải là bạn đang du ngoạn trên biển Caribê? Bạn có biết các món hải sản Maimi chỗ nào tuyệt vời nhất không? Tôi sẽ chỉ cho bạn.
Tại sao không phải là bạn đang mua sắm trên đại lộ số 5 ở New York? Dừng chân ở Wallof hay là Plaza để thưởng thức món ngỗng quay đặc biệt với mứt táo kiểu “Lukhof”? Tại sao không phải là bạn đang ngắm hoàng hôn ở Arizona? Tại sao không phải là bạn đang hưởng thụ tất cả những điều mà cuộc sống mang đến như vậy như phần thưởng cho những nỗ lực đúng đắn và thường xuyên của bạn? Và đây là câu hỏi cuối cùng:
4. Câu hỏi thứ Tư: “Tại sao không phải bây giờ?”
Tại sao lại làm chậm chễ thời điểm của tương lai huy hoàng , khi mà đồng đội của bạn đang chờ ở bạn? Hãy làm ngay hôm nay! Lấy ngay những quyển sách cần nhất, lập kế hoạch mục tiêu cụ thể, mời một nhân vật thành công đi ăn trưa để học hỏi, tìm các phương pháp để nâng cao năng suất của bạn, xây dựng phong cách sống tràn ngập tình yêu và lòng từ thiện, tiếp tục nỗ lực để tin vào bản thân mình.

Phương Pháp Thiết lập Mục Tiêu Cá nhân

Phương Pháp Thiết lập Mục Tiêu Cá nhân
Thiết lập mục tiêu là một công cụ rất hữu ích cho việc lên kế hoạch phát triển cá nhân. Nắm bắt được quy trình thiết lập mục tiêu sẽ giúp bạn biết được mục tiêu thật sự và cuối cùng trong một kế hoạch cũng như trong cuộc sống, thông qua việc xác định một cách chính xác những gì bạn mong muốn đạt được và giai đoạn nào bạn phải tập trung hết nỗ lực của mình và cũng như việc bạn xác định được những rào cản và trở ngại mà mình có thể gặp phải. Nếu bạn thấm nhuần phương pháp này nó sẽ giúp bạn cảm thấy tự tin và giải quyết vấn đề sẽ trở nên hiệu quả hơn rất nhiều.

Thiết lập mục tiêu là một trong những kỹ thuật mà các vận động viên nhà nghề và các doanh nhân thành đạt sử dụng rất phổ biến. Phương pháp này giúp họ tìm thấy được động lực và phương hướng để hoàn thành mục tiêu mà họ đã đặt ra. Tổ chức thời gian, các bước thực hiện cũng như sử dụng các nguồn lực giới hạn để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất và nhanh chóng nhất.

Một mục tiêu bao gồm những mức độ khác nhau. Đầu tiên bạn phải xác định được mục tiêu cốt lõi. Bạn phải tự vẽ ra bức tranh tổng quát để hoàn thành mục tiêu đó. Sau đó, Bạn chia nhỏ bức tranh này ra thành những bước cụ thể rồi lần lượt hoàn thành những bước này.

Mục tiêu cốt lõi

Bước đầu tiên để xác định mục tiêu cá nhân là bạn phải xem xét cái gì thật sự bạn muốn đạt được trong cuộc đời bạn. Khi bạn đã xác định mục tiêu cuối cùng bạn sẽ nhìn thấy được bức tranh tổng thể bạn phải làm gì và khi phải ra quyết định trước việc gì bạn hãy dựa trên bức tranh tổng thể đó. Trên mỗi lĩnh vực trong cuộc sống ví dụ như: Gia đình, sự nghiệp, quan hệ bạn bè, tài chính, sức khỏe… bạn phải liệt kê ra và phải xác định quan điểm và thái độ của mình đối với từng lĩnh vực. Khi đã liệt kê và xác lập quan điểm cụ thể đối với lĩnh vực được xem là cốt lõi đối với cuộc sống của bạn thì bạn phải ứng dụng chúng một cách nghiêm túc ngay trong cuộc sống. Bạn cũng phải luôn xem lại bản thân mình xem hành động của bạn có phản ánh được những gì bạn mong muốn không và phải luôn tự nhủ với mình rằng “ Mục tiêu này là do bạn tự đặt ra không ai ép buộc bạn, không phải do ba mẹ, không phải do bạn bè…”.

Khi đã có được mục tiêu cốt lõi trong cuộc sống thì bạn hãy lập kế hoạch và chia ra thành những bước nhỏ để có thể thực hiện trong 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng hay 1 năm… và thực hiện từng bước một sẽ giúp bạn dễ dàng đạt được mục tiêu đã đặt ra. Sau đó, bạn hãy liệt kê ra những việc cần làm trong 1 ngày và phải bảo đảm rằng những việc này phải dựa trên mục tiêu cốt lõi của bạn.
Theo đuổi mục tiêu đã đặt ra

Một khi đã xác định được bước đầu tiên trong kế hoạch thì bạn phải thực hiện chúng theo quỹ đạo mà bạn đã định sẵn bằng cách luôn xem lại và cập nhật chúng mỗi ngày. Nhìn nhận mục tiêu cuối cùng của bạn giống như một hiến pháp của một quốc gia. Khi muốn thay đổi chúng bạn phải xem xét thật cẩn trọng.

Phương pháp thiết lập mục tiêu hiệu quả
Những chỉ dẫn sau đây sẽ giúp bạn thiết lập được mục tiêu hiệu quả:

Xác định mục tiêu của bạn một cách thật rõ ràng: Điều này giúp bạn tránh được sự nhầm lẫn trong khi lập ra kế hoạch;

Chính xác: Để xác định mục tiêu một cách chính xác bạn phải liệt kê thật cụ thể: thời gian, cũng như những gì cần đạt được trong một kế hoạch. Điều này sẽ giúp cho bạn có thể kiểm tra lại xem bạn có thể đat được mục tiêu ở mức độ nào;

Xác định mức độ ưu tiên: Khi bạn có nhiều mục tiêu, bạn phải xác định được thứ tự ưu tiên cho từng mục tiêu. Điều này giúp bạn tránh được sự quá tải khi thực hiện nhiều mục tiêu cùng một lúc và dành thời gian và sức lực cho mục tiêu cao nhất nhiều hơn;

Viết từng mục tiêu cụ thể ra: Việc này rất quan trọng, vì theo thói quen bạn thường giữ chúng trong đầu nhưng nếu bạn viết chúng ra nó sẽ giúp bạn có thêm động lực và luôn nhắc nhở bạn phải hoàn thành các mục tiêu đó;

Chia thành những bước nhỏ: Nếu một kế họach quá lớn, bạn sẽ khó thực hiện và không thể thấy được thành quả cũng như đạt được kế hoạch đó ở mức độ nào;

Thiết lập mục tiêu phải thực tế: Luôn quan tâm đến những mục tiêu bạn đã lập ra phải bảo đảm rằng bạn luôn kiểm soát được chúng. Bạn có thể không đạt được mục tiêu bằng nhiều lý do như: thiếu may mắn, những yếu tố không kiểm sóat như: thời tiết, môi trường, sự thiếu công bằng, tai nạn....Nhưng bạn không thể thất bại với lý do không không tuân thủ theo kế hoạch đã đạt ra, điều này làm bạn chán nản và dễ dàng buông xuôi.

Thiết lập mục tiêu một cách thiết thực: Khi thiết lập mục tiêu bạn phải bảo đảm kế hoạch này nằm trong khả năng của bạn. Ban đầu phải đi từ dễ đến khó, không đặt ra những mục tiêu thật khó vì nó sẽ dễ làm bạn chán nản.

Đừng thiết lập những mục tiêu quá dễ dàng: Mục tiêu quá dễ là một con dao hai lưỡi, nó giúp bạn dễ dàng đạt được nhưng cũng dễ làm bạn mất đi động lực.

Đạt được mục tiêu
Khi bạn đạt được mục tiêu dành thời gian để tận hưởng những kết quả bạn đã đạt được quan sát những bước tiếp theo trong kế hoạch.

Khi đạt được mục tiêu bạn cần rút ra kinh nghiệm và xem lại toàn bộ kế hoạch của mình:

Nếu bạn đạt được các mục tiêu quá dễ dàng, bạn phải đặt mục tiêu tiếp theo khó hơn;
Nếu bạn đạt được mục tiêu quá khó khăn, bạn phải đặt mục tiêu tiếp theo dễ dàng hơn;
Nếu sau khi đạt được mục tiêu ban đầu và bạn nhận ra phải thay đổi kế hoạch tiếp theo thì đừng ngại ngần thay đổi nhưng phải cân nhắc cẩn thận;
Nếu trong khi thực hiện kế họach bạn nhận thấy rằng: Nỗ lực của bạn thì rất nhiều so với thành quả bạn đạt được. Bạn phải xem lại có nên đặt ra kế hoạch để khắc phục việc đó hay không.
Nếu bạn thất bại điều đó không quan trọng. Quan trọng là bạn đã có được kinh nghiệm từ thất bại đó. Hãy chiêm nghiệm thật kỹ bài học đó và bắt đầu lại.

Hãy nhớ rằng mục tiêu của bạn sẽ thay đổi song song với sự phát triển của cá nhân bạn. Nếu mục tiêu không còn kích thích bạn thí hãy bỏ chúng đi! Và luôn nghĩ rằng bạn điều khiển chúng chứ bạn không bị chúng điều khiển. Mục đích mang lại cho bạn sự kích thích thật sự, sự thỏa mãn và cảm giác thành công.

Các điểm lưu ý khi thiết lập mục tiêu cá nhân
Phương pháp thiết lập mục tiêu là:

Xác định rõ mục tiêu mà bạn muốn đạt được;
Phân biệt điều nào là quan trọng trong mớ hỗn độn;
Tạo động lực giúp bạn đạt được mục tiêu;
Xây dựng lòng tin cho bạn dựa trên những kết quả đạt được.
Đừng quên tận hưởng kết quả mà bạn đạt được. Rút ra bài học cần thiết và ứng dụng bài học đó vào những bước tiếp theo.

Nếu các bạn muốn chia sẽ kinh nghiệm trong việc thiết lập mục tiêu cá nhân trong cuộc sống cũng như trong công việc thì bạn vui lòng tham gia thảo luận trong diễn đàn.

ĐỪNG BAO GIỜ BỎ CUỘC

ĐỪNG BAO GIỜ BỎ CUỘC

Mọi người rất hay hỏi tôi về bí quyết của thành công. Có rất nhiều thứ, nhưng đứng đầu danh sách của tôi là hai niềm tin:
1. Bạn cần phải là một người khao khát đấu tranh.
2. Người khao khát đấu tranh đó không bao giờ bỏ cuộc.

Qua nhiều năm tháng tôi hiểu được rằng thành công phần lớn đeo đuổi người ở lại khi mà những người khác đã bỏ đi.

Khi bạn nghiên cứu những người thực sự thành công bạn sẽ thấy rằng họ từng mắc phải nhiều lỗi lầm, nhưng khi họ bị gục gã thì họ gắng gượng dậy… và dậy…và dậy. Giống như chú thỏ Bunny trong quảng cáo pin Energiner tiếp tục đi…và đi… và đi.

Abraham Lincoln thất bại trong kinh doanh, thua cuộc trong nhiều cuộc bầu cử, bị người tình bỏ rơi và đã từng bị suy nhược thần kinh. Nhưng ông không bao giờ bỏ cuộc. Ông vẫn tiếp tục cố gắng và đối với nhiều người ông là vị tổng thống vĩ đại nhất. Chúng ta hãy xem thêm một số ví dụ sau:

Cuốn sách về trẻ em đầu tiên của tiến sỹ Seuss đã bị 23 nhà xuất bản từ chối.
Michael Jordan đã từng bị loại khỏi đội tuyển bóng rổ của trường trung học.
Henry Ford đã thất bại và bị phá sản năm lần trước khi đạt được thành công cuối cùng.
Franklin D.Roosovelt đã bị quật ngã bởi bệnh nhiễm khuẩn làm viêm tuỳ sống đến bại liệt, nhưng ông không bao giờ chịu bỏ cuộc.
Helen Keller, một người hoàn toàn điếc và mù, đã tốt nghiệp với lời khen ngợi của trường Đại học Radcliffe, và bà đã trở thành một nhà văn, một giảng viên nổi tiếng.
Adam Clark đã phải nỗ lực 40 năm để viết lời chú giải Kinh Thánh.
Ernest Hemingway đã chỉnh sửa tác phẩm Ông già và biển cả đến 80 lần trước khi đưa bản thảo cho nhà xuất bản.
Trường Đại học của Bern đã không chấp nhận luận văn tiến sỹ của Albert Einstein vì cho rằng luận văn đó không thiết thực.
Tôi yêu thích câu chuyện về người huấn luyện viên bóng rổ trường trung học, ông đã cố gắng thúc đẩy những cầu thủ giữ gìn phong độ trong suốt mùa giải cam go. Giữa mùa giải, ông đã đứng trước đội và nói: “Michael Jordan đã bao giờ bỏ cuộc chưa?”, toàn đội đáp lại: “Chưa!” Ông nói to: “Anh em nhà Wright thì thế nào? Họ đã bao giờ bỏ cuộc chưa?” “Chưa!”, toàn đội lại nói lớn. “Muhuammad Ali đã bao giờ bỏ cuộc chưa?”, một lần nữa đội lại nói to: “Chưa!” “Elmer McAlister đã bao giờ bỏ cuộc chưa?”
Yên tĩnh một lúc lâu, cuối cùng, một cầu thủ đã bạo dạn lên tiếng: “Ai là Elmer McAlister? Chúng tôi chưa từng nghe đến ông ấy”. Ngài huấn luyện viên trả lời ngay: “Tất nhiên là các bạn chưa từng nghe đến ông ấy – ông ấy đã bỏ cuộc!”
Các bạn có thể thấy, điều quan trọng là đừng bao giờ bỏ cuộc. Tôi biết một vận động viên đua ngựa trẻ tuổi đã thất bại tại cuộc đua đầu tiên của mình, cuộc đua lần thứ 200 và 250. Cuối cùng Eddie Arcaro có được chiến thắng ở vòng đua và trở thành một trong những vận động viên xuất sắc nhất của thời đại.
Even Babe Ruth được các nhà sử học về thể thao đánh giá là cầu thủ bóng chày xuất sắc nhất mọi thời đại nhưng ông cũng từng thất bại rất nhiều lần. Ông đã thua 1330 lần.
Winston Churchill, vốn là một người chưa bao giờ bỏ cuộc trong cuộc đời nhiều thất bại của mình, ông đã đọc bài diễn văn ngắn nhất và hào hùng nhất chưa từng có trong lễ trao giải. Mặc dù ông đã mất ba năm mới qua được chương trình lớp tám vì gặp rắc rối với môn ngữ pháp tiếng Anh, nhưng sau này Churchill đã được vào thẳng trường đại học Oxford. Khi ông tiến lên bục cùng với điếu xì gà thương hiệu của mình, cây gậy ba toong, cái mũ trên chóp đầu, ông kêu lên: “Đừng bao giờ từ bỏ!”. Sau đó, ông ấy ngồi xuống.

Trích từ cuốn Pushing the Envelope của Harvey Mackay

Tập trung đầu óc: Điều kiện thành công

Tập trung đầu óc: Điều kiện thành công


 In Email


Chúng ta đang sống trong thời đại đầu óc bị phân tán thường xuyên do rất nhiều thứ xung quanh. Phân tán tư tưởng ngăn cản chúng ta trong học tập, làm giảm khả năng phát triển bản thân, nhưng trước hết những lời khẳng định của giáo sư Mihaly Csikszentmihalyi, nguyên trưởng khoa tâm lý học, Đại học Chicago (Mỹ), mất năng lực kiểm soát năng lượng tâm lý cản trở ta cảm nhận sự sung sướng đích thực, cảm nhận hạnh phúc đích thực. Vì vậy, năng lực tập trung đầu óc ngày nay có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết.
Có thể định nghĩa đơn giản về sự tập trung đầu óc như sau: tập trung đầu óc là năng lực tập trung sự chú ý vào chính công việc đang làm. Đó có thể là đọc sách, nghe nhạc, rửa bát, chuyện trò hay giải quyết vấn đề chuyên môn, nghề nghiệp. Có một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay phần lớn chúng ta không biết tập trung đầu óc. Thậm chí khả năng tập trung sự chú ý vào những việc bình thường nhất cũng được coi là một cố gắng lớn lao. Cho nên lấy lại sự tập trung chú ý khi có cái gì làm chúng ta phân tán tư tưởng và lập tức trở lại tập trung như trước đó cũng được coi là một năng lực. Sự tập trung đầu óc là thành phần quan trọng cấu thành trí tuệ của chúng ta, bởi nếu không có nó thì sự phát triển bản thân mỗi con người rất khó có thể được thực hiện. Sự tập trung chú ý có thể diễn ra trong khoảng vài giay đến vài chục giây đồng hồ, nhưng sau thời gian nghỉ, nó chỉ có thể được trở lại nhờ ý chí mạnh mẽ của mỗi người.
Về tầm quan trọng đặc biệt của khả năng tập trung đầu óc, cả các giáo sư tâm lý học cũng như các bậc thầy về yoga và triết học Phật giáo đã đề cập nhiều. Giáo sự đại học Chicago Mihaly Csikszentmihalyi mà chúng ta vừa nhắc tên trên kia đã bỏ ra trên dưới 20 năm để nghiên cứu điều “suốt đời ám ảnh” ông – như một số người khẳng định – là những tác nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc con người. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng cái làm cho mỗi trải nghiệm trở nên thoải mái, dễ chịu là trạng thái tập trung đầu óc thật sâu, đến mức bản thân con người hoàn toàn chìm đắm trong công việc đang làm. Trạng thái này cũng có tên gọi là “chìm đắm” – bởi một người, khi ở trong trạng thái này sẽ làm việc hết sức mình, bản thân anh ta chính là cái anh đang làm, anh ta mất hết cảm giác về tự thức. Chúng ta hãy hình dung một nhà phẫu thuật tim mạch trong một ca mổ phức tạp hay một vận động viên leo núi đang trên đường chinh phục một ngọn núi cao – sự tập trng đầu óc cao độ là điều kiện dẫn tới thành công trong những công việc họ đang thực hiện. Khi mọi hoạt động kết thúc, đó cũng là lúc ý thức trở lại trong đầu óc họ. Sau những lần như thế, con người ta trở nên mạnh mẽ hơn, giàu có hơn về những trải nghiệm và những năng lực mới.
Điều khiển bản thân bằng sự thận trọng và tập trung chú ý vào những mục tiêu nhất định cũng có thể coi là một kiểu đầu tư về tâm lý. Sự chú ý được tập trung vào cái gì, điều này đang trở thành nội dung của cuộc đời ta. Như vậy chúng ta có cái để mà phấn đầu vươn lên. Chúng ta hãy hình dung một cuộc gặp gỡ bạn bè. Một người quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ, cho nên tỏ ra cởi mở, mạnh dạn, cố gắng làm quen với những người mới, người khác lại giữ kẽ, tìm cho mình sự an toàn tuyệt đối, luôn phải cân nhắc trước sau xem mình có phù hợp với nhóm người này không, so với ai mình tỏ ra trội hơn, so với ai mình chưa được bằng, người bạn đời có thể phản bội mình để chạy theo ai trong số đó, ai mình có thể yên tâm. Chúng ta dễ dàng nhận ra ai trong số những người có mặt tại cuộc gặp gỡ đó đã có sự đầu tư tốt nhất về năng lượng tâm lý, một sự đầu tư mang lại những thành công lớn lao trong cuộc sống.
Điều kiện khá quan trọng tạo ra năng lượng tâm lý là sự ngăn nắp trong bộ óc của chúng ta. Nhưng để sự chú ý nhằm vào hướng nào cho phù hợp và hiệu quả thì cần phải xác định rõ ràng xem những mục tiêu cơ bản nhất đối với chúng ta là cái gì. Cột mốc chỉ đường quan trọng nhất ở đây là những nhu cầu mang tính tổng hợp trong cuộc đời mỗi con người. Mong muốn đáp ứng các thứ nhu cầu sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta hành động. Vì vậy cần phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với các nhu cầu tối cần thiết và không đồng nhất chúng với các chiến lược, chiến thuật, nghĩa là với các phương thức cụ thể để đáp ứng nhu cầu. Nhằm phục vụ cuộc sống của mình, tất cả chúng ta đều cần không khí, cần ăn uống, nghỉ ngơi, cần sự gần gũi, an toàn, song cách thức đáp ứng những nhu cầu này lại rất khác nhau. Tập trung đầu óc đối với chúng ta không phải lúc nào cũng là điều dễ dàng. Có người không tập trung chú ý được ngay cả khi ngồi nghe buổi hòa nhạc mà mình chờ đợi từ rất lâu và người biểu diễn là một nghệ sĩ mình ngưỡng mộ… Mỗi người chúng ta có sự nhạy cảm khác nhau đối với những tác động khác nhau. Sự khác nhau này chủ yếu có xuất phát điểm từ cấu tạo tâm lý của mỗi người và từ việc chúng ta nhận thức như thế nào về ý nghĩa của các tác động khác nhau đó. Chẳng hạn như khi chúng ta để tâm nhiều hơn đến cuộc trò chuyện với người thứ hai thật sự toàn tâm toàn ý với điều đang làm thì rõ ràng chúng ta ít quan tâm đến những điều đang diễn ra xung quanh. Nhu cầu của chúng ta càng lớn bao nhiêu thì chúng ta càng tập trung đầu óc bấy nhiêu vào việc đáp ứng nhu cầu đó. Trong nhịp sống khẩn trương hàng ngày như hiện nay, thật khó nhận dạng một cách nhanh chóng và chính xác các loại nhu cầu, khó trả lời hàng loạt câu hỏi do chính mình nêu ra, cái gì là cơ bản ở đây, hay tại nơi nào khác. Khi chúng ta không giữ mối liên hệ với các nhu cầu của bản thân, chúng ta có thể cảm thấy chán nản. Đó là tín hiệu cho thấy chúng ta không làm cái chúng ta muốn, không làm cái chúng ta thật sự muốn.
Bằng cách nào chúng ta có thể tập trung chú ý tốt nhất, điều đó phụ thuộc vào chuyện chúng ta làm gì trong cuộc đời mình và chúng ta trải nghiệm cái đó như thế nào. Chúng ta rèn luyện năng lực tập trung đầu óc hay đúng hơn là chúng ta cho phép đầu óc mình chạy theo những ý nghĩ lẫn lộn, chồng chéo nhau và những cảm xúc trái ngược nhau của mình. Đầu óc chúng ta càng trống rỗng bao nhiêu, càng tự do bao nhiêu thì chúng ta càng dễ tập trung chú ý vào những nhu cầu của mình và dễ xác định những giá trị ưu tiên cho cuộc đời mình.
Sự rèn luyện một cách có ý thức năng lực tập trung đầu óc trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta sẽ cho phép tận dụng hiệu quả hơn thời gian của mỗi người và chuẩn bị tinh thần để chúng ta bước vào những trải nghiệm mới.


Năng lực tập trung tư tưởng một phần có được do gen di truyền song một phần do chúng ta tích lũy từ môi trường xung quanh, nhưng giống như các tiềm năng khác, nó có thể được phát triển thông qua rèn luyện. Trong bất cứ tình huống nào chúng ta có mặt, ở bất cứ nơi nào chúng ta xuất hiện, chúng ta mang trong mình toàn bộ lịch sử bản thân, toàn bộ những gì đã trải qua, những kinh nghiệm đã tích lũy. Hầu như chúng ta tập trung đầu óc một cách máy móc vào những thứ chúng ta cho là cơ bản với mình, những thứ làm nên sự đam mê của chúng ta hoặc là nhu cầu thiết yếu nhưng hoàn toàn có ý thức. Giữa đám đông, chúng ta có thể ngay lập tức chú ý đến chàng trai mà từ lâu ta có cảm tình, còn trên bãi biển, một người sưu tập đá quý có thể nhìn thấy ngay những gì cần cho bộ sưu tập của mình ở nơi mà người khác chỉ thấy vài viên đá bình thường như bao viên đá khác.
Vấn đề nảy sinh khi chúng ta không thực sự coi trọng những ý thức cụ thể và một chiến lược đáp ứng các loại nhu cầu trong khi các nhu cầu này tác động rất lớn đến chúng ta. Sự coi thường hay cố ý bỏ qua đó, không giúp chúng ta tìm kiếm những cách giải quyết mới. Nó giam hãm chúng ta trong một thứ cạm bẫy của cái mà chúng ta nghĩ là sáng kiến duy nhất về cuộc đời mình. Từ đó sinh ra sự cứng nhắc thay cho uyển chuyển, linh hoạt, và thay cho những khả năng mới có thể có. Vì thế, chúng ta đồng thời sử dụng khái niệm thả lỏng đầu óc. Bởi vì trong sự tập trung tư tưởng không cần thiết phải căng thẳng và lo lắng đến mức bị ám ảnh hàng ngày.
Những người theo đạo Phật, để miêu tả trạng thái thiền của đầu óc đã sử dụng khái niệm tập trung và thả lỏng đồng thời. Tập trung toàn lực cho một công việc đã chọn không có nghĩa là đầu óc cứ phải căng ra. Một trong số các bậc thầy về thiền đã nói với các học trò: Nếu con ăn thì con cứ ăn, nếu con đọc sách thì con cứ đọc sách. Bữa nọ, một trong số các học trò nhìn thấy thầy đọc sách khi ăn, liền hỏi: Thưa thầy, thế này là thế nào, thầy dạy chúng con phải hoàn toàn tập trung tư tưởng cho một công việc đang làm, thế mà chính thầy lại không thực hiện điều đó, là nghĩa làm sao? Ông thầy trả lời: Nếu con ăn thì con cứ ăn, nếu con đọc thì con cứ đọc, còn nếu con vừa ăn vừa đọc thì con cứ vừa ăn vừa đọc.
Một người Ba Lan kể rằng cách đây không lâu ông ta đã có mặt trong buổi báo cáo dẫn luận về thiền. Đến phần trả lời câu hỏi thắc mắc, thầy nói ngay: Trước khi mọi người đưa ra câu hỏi, tôi xin trả lời chung cho tất cả các câu trả lời đó: Thực hành thật nhiều vào!
Rèn luyện năng lực tập trung tư tưởng là vũ khí tự về trước sự phân tán đầu óc, là vũ khí bảo vệ hữu hiệu trước những ý thích tùy hứng của con người. Việc rèn luyện này dựa trên sự quan sát trí óc mình và quan sát những cảm nhận xuất hiện trong đó: tư duy, cảm xúc, nhu cầu. Mỗi người trong số chúng ta đều có rất nhiều trạng thái ý thức và những tính cách nhỏ lẻ của riêng mình. Theo ông Ken Wilber, người sáng tạo ngành tâm lý học hội nhập, con số các tính cách nhỏ lẻ này bình quân ở mỗi người là khoảng mười hai. Ở những thời điểm khác nhau của cuộc đời mình, thậm chí trong từng ngày, chúng ta thường đồng nhất bản thân mình với các trạng thái do mình lựa chọn. Chẳng hạn như nếu chúng ta tức giận thì cái “tôi” của chúng ta, tức bản thân chúng ta trong thời điểm đó, chính là nỗi tức giận. Một lát sau, khi chúng ta tràn đầy âu yếm, chan chứa yêu thương ôm con vào lòng thì cái “tôi” của chúng ta trở thành một ông bố hay bà mẹ rất mực thương con. Cái làm nên giá trị của sự tập trung đầu óc chính là việc chúng ta điều khiển bản thân một cách có ý thức bằng các tình huống như thế hoặc ít nhất là chúng ta nhìn thấy các tình huống như thế. Và chính nhờ sự tập trung đầu óc, chúng ta không gắn chặt mình vào các vai diễn, không phủ định chúng mà chỉ quan sát chúng, rút ra kết luận và lựa chọn cách giải quyết tốt nhất mà chúng ta có thể lựa chọn thời điểm nhất định. Không tập trung đầu óc, chúng ta không thể ý thức được vấn đề chúng ta sống bằng cách nào, chúng ta thiết lập các mối quan hệ như thế nào, với thế giới quanh ta, các mối quan hệ với những người khác. Chúng ta không sống một cách có ý thức, điều đó không phải do chúng ta lựa chọn, mà cuộc sống lựa chọn thay cho chúng ta. Chúng ta chỉ có một ảnh hưởng hạn chế trong chuyện chúng ta đóng góp gì vào cuộc đời của những người khác, chúng ta chia sẻ gì với thế giới của chúng ta.
Cần phải rèn luyện hàng ngày để trong bộ óc hình thành trạng thái có khả năng trở thành người quan sát tất cả những gì diễn ra bên ngoài. Khi đó chúng ta có thể tự neu cho mình câu hỏi, ai đang chỉ đạo chúng ta, bộ phận nào của tâm lý chúng ta có ảnh hưởng lớn lao nhất đến việc đưa ra những lựa chọn mang tính sống còn đối với cuộc đời ta và liệu những lựa chọn đó có thiết thực với cuộc sống của chúng ta không?

Như đã trình bày, khả năng tập trung đầu óc là năng lực có thể có được do rèn luyện hàng ngày. Cuộc sống hiện đại mang đến cho chúng ta bao nhiêu tác động khách quan khiến cho việc tập trung chú ý thực sự trở thành một nghệ thuật. Vì vậy, nếu gần đây đã xảy ra trường hợp một tháng đôi lần bạn quên khóa cửa khi ra khỏi nhà hoặc đã lên xe máy đi được một đoạn rồi mới chợt nhớ ra là chưa tắt tivi, còn ở nơi làm việc thì không tập trung tư tưởng để làm một việc gì cho đến nơi đến chốn trong vòng mười lăm phút đồng hồ thì đó cũng chưa phải là lý do để bạn bi kịch hóa tình hình. Những người như bạn đâu phải ít. Quan trọng là bạn có nhận ra là mình đang bị mất tập trung và xác định quyết tâm rèn luyện để thay đổi hiện trạng đó hay không. Dưới đây xin đưa ra một số gợi ý để bạn tham khảo và áp dụng:
1. Nếu bạn phải hoàn thành một nhiệm vụ nào đó, bạn hãy bắt đầu từ việc lựa chọn cho mình một nơi làm việc thích hợp. Điều quan trọng trước tiên là ở đó bạn có cảm thấy thoải mái và dễ chịu không và đó có phải là nơi tạo thuận lợi cho bạn tập trung đầu óc hay không. Tại nơi làm việc, nếu bạn phải ngồi cùng với mấy đồng nghiệp khác trong một phòng và bạn rất dễ bị phân tán tư tưởng, bạn hãy mạnh dạn đề nghị các đồng nghiệp nói chuyện nhỏ thôi, và nếu họ có nhu cầu gặp nhau dài dài thì họ phải chọn nơi khác để mà gặp gỡ.
2. Bạn hãy đặt bàn làm việc của mình sao cho đằng sau bạn không có ai có thể đứng được. Phía trên màn hình máy vi tính hay bàn làm việc, bạn nên treo một tấm ảnh mày xanh lá cây để trong những lúc mất tập trung, bạn có thể hướng cái nhìn của mình vào đó. Màu xanh lá cây có tác dụng rất tốt để đôi mắt bạn nghỉ ngơi.
3. Thỉnh thoảng (tốt nhất mỗi tiếng đồng hồ một lần), bạn giải lao khoảng 5 – 10 phút. Bạn nên đi lại ngoài hành lang hoặc đứng ngắm cảnh bên cửa sổ, lấy nước cho đầy bình nếu trên bàn làm việc của bạn luôn có một bình nước.
4. Bạn không nên nghỉ ngơi bằng cách nhân tiện làm một việc gì khác cái công việc đang phải hoàn thành. Nếu bạn nghĩ là mình luôn phải chuẩn bị tư thế để ai muốn gặp mình là dễ dàng gặp được ngay thì đó là một suy nghĩ sai lầm. Vì vậy bạn hãy tắt máy điện thoại và không quan tâm đến chuyện nhận e-mail bất cứ lúc nào. Bạn hãy tự thỏa thuận với mình là bạn chỉ quan hệ với những người đang tìm kiếm mình khi nào bạn hoàn thành công việc cần làm hoặc hoàn thành phần công việc cụ thể nào đó trong cái công việc đang phải hoàn thành.
5. Bạn hãy phân loại công việc và xác định các phương pháp hoàn thành các công việc phải làm.
6. Nếu có thể được thì thỉnh thoảng bạn hãy thay đổi chỗ ngồi làm việc của mình. Một phần công việc bạn có thể làm tại bàn làm việc hàng ngày, một phần có thể làm ở nơi nào đó ngoài văn phòng ấy. Một số công việc bạn có thể giải quyết trong lúc ăn trưa, nếu được.
7. Bạn hãy rèn luyện thường xuyên. Nếu có điều kiện, bạn cần vận động vào buổi sáng. Bạn hãy cố gắng chơi thể thao một – hai lần trong tuần. Bạn không nên làm những công việc quan trọng đòi hỏi tập trung đầu óc cao độ ngay sau khi vừa kết thúc các bài tập cường độ cao tại phòng tập thể hình hay vừa tập xong bài aerobic.
8. Bạn hãy thường xuyên huy động trí tưởng tượng của mình. Trước khi bạn bắt đầu một công việc nào đó, hãy nhớ lại hoàn cảnh mà bạn đã từng phải tập trung đầu óc. Không quan trọng hoàn cảnh đó liên quan đến cái gì ngày hôm nay. Bạn hãy gọi về trong óc mình hình ảnh gợi lại hoàn cảnh đó và nhớ lại những tình cảm đã theo sát bạn khi đó. Bài tập này bạn nên tiến hành ngay trước khi bắt tay vào công việc. Tốt nhất là bạn hãy lặp lại trước khi thực thi bất cứ nhiệm vụ nào.
9. Bạn nên nhớ rằng uống nước rất tốt cho việc tập trung đầu óc và đánh thức bộ óc làm việc. Bạn nên tránh cà phê và những đồ uống có tác dụng kích thích khác.
10. Bạn hãy ăn uống đầy đủ, nhưng đừng ăn quá nhiều. Ăn hạt dẻ chẳng hạn, sẽ giúp ích cho tập trung đầu óc, nhưng bạn nên tránh ăn những thứ nhiều mỡ. Bạn hãy nhớ rằng chúng ta ít khi cảm thấy ân hận là mình đã ăn quá ít…
11. Bạn hãy ngủ đủ thời gian mình thấy cần phải ngủ. Khi bạn thấy mình đã ngủ đẫy giấc, thấy tỉnh táo, bạn sẽ dễ dàng tập trung để hoàn thành công việc phải làm hơn. Bạn hãy cố gắng sống phù hợp với nhịp sống quen thuộc của cơ thể bạn – cà phê là yếu tố cần thiết để bạn tỉnh táo nhưng rượu lại không phải là thứ có tác dụng an thần.
12. Về lâu dài, làm 5 việc một lúc là không đem lại lợi ích gì lớn. Cho nên tốt nhất bạn nên làm các công việc theo thứ tự. Bạn hãy bắt đầu bằng việc lập kế hoạch. Bạn cũng nên xác định xem cái gì là quan trọng nhất với mình, cái gì có thể gác sang một bên, làm sau cũng “chưa chết ai”.
13. Bạn hãy tự thưởng cho mình cái gì đó sau khi hoàn thành kế hoạch đề ra. Đó có thể là một niềm vui nho nhỏ - như đọc một bài báo hay hoặc lướt qua một trang mình yêu thích trên Internet.
14. Nếu bạn hay bị phân tán đầu óc do có cái gì đó làm bạn buồn phiền thì hãy dành thời gian đặc biệt cho các ý nghĩ đó. Bạn hãy thỏa thuận với chính mình là hàng ngày, trong khoảng thời gian từ 16.40 đến 17.10 chẳng hạn, bạn có thời gian để cân nhắc vấn đề này. Khi trong ngày bạn bị phân tán tư tưởng vì một ý nghĩ khó chịu nào đó, bạn hãy định thời gian giải quyết nó vào một giờ cụ thể sau đó.
15. Bạn không nên theo dõi quá thường xuyên và sát sao những tiến bộ của mình, vì điều này cũng góp phần làm đầu óc bị phân tán thêm.
Một trong số các tác giả của cuốn sách “Học như thế nào để học tốt” tiến sĩ tâm lý học Przemyslaw Babel, khi trả lời phỏng vấn đã cho biết lý do xuất bản cuốn sách này: “Tôi nhớ rất rõ rằng hồi còn nhỏ, khi cắp sách đến trường, tôi không bao giờ được các thầy cô chỉ dẫn phải học như thế nào. Tôi thường xuyên phải nghe: “Nhắc lại nào, đọc lại lần nữa, học thuộc đi”. Trong khi đó, có biết bao phương pháp để học hiệu quả hơn mà vẫn cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Học đâu phải chỉ là nhồi nhét cho thật nhiều vào đầu, như nhiều người vẫn nghĩ. Bước đi đầu tiên đến với tri thức là học cách tập trung đầu óc”.
Một bà mẹ có cậu con trai tám tuổi đang học phổ thông cơ sở kể: “Con trai tôi chưa bao giờ được nhận danh hiệu “học sinh giỏi”, không phải vì nó đần độn mà chỉ vì nó gặp khó khăn trong việc tập trung đầu óc.Cái gì cũng có thể làm nó phân tán tư tưởng. Khi nó bắt tay vào làm bài tập ở nhà, bài nào nó cũng làm được một tí rồi bỏ dở dang vì còn phải bật máy tính lên xem. Tôi đã cố gắng học cùng với con, nhưng cả lúc có mẹ bên cạnh, nó cũng không ngồi yên được mười lăm phút bao giờ. Cuối cùng tôi phải rèn luyện cho nó cách tập trung đầu óc thông qua các trò chơi. Tôi hiểu ra một điều rằng trẻ con không chỉ học bằng cách ôm khư khư cuốn sách trong tay”.

Qua lời kể trên, chúng ta có thể rút ra kết luận đầu tiên: Muốn giúp trẻ học, những người làm cha làm mẹ phải tập cho con năng lực tập trung đầu óc, không chỉ trong thời gian nhất định mà việc làm này mang tính lâu dài. Trợ giúp đắc lực cho năng lực này có thể là đồ chơi và các trò chơi. Mà không nhất thiết phải là các loại đồ chơi đắt tiền, hiện đại, ngược lại, có thể chỉ là các thứ đã có từ trước, đã quen thuộc với trẻ từ nhiều năm. Mỗi tấm bảng, mỗi hộp xếp hình trí uẩn, mỗi trò chơi ghép tranh… không chỉ đem lại cho người chơi sự thoải mái, dễ chịu, có tác dụng thư giãn, mà đó là hình thức rèn luyện thói quen, năng lực tập trung đầu óc. Trò chơi ghép tranh, xếp hình đòi hỏi sự liên tưởng và không ngừng tìm kiếm những hình dáng, màu sắc khớp nhau, nó cũng đòi hỏi phải tập trung tư tưởng trong một thời gian dài cho một động tác nhất định. Đây chính là thứ trẻ em hiện nay đang gặp vấn đề vì đặc trưng cơ bản của trẻ là “cả thèm chóng chán”. Nhờ trò chơi ghép hình, ghép tranh, trẻ có thể tập được thói quen tập trung đầu óc cho một công việc nhất định, chẳng hạn tập trung trong khoảng nửa tiếng đồng hồ.
Ở các nước mà hình thức giải ô chữ phát triển, đây cũng là hình thức rèn luyện tuyệt vời. Tốt nhất nên tổ chức việc làm này với sự tham gia của tất cả các thành viên trong gia đình. Nếu trong nhà có bố, mẹ và con thì nên mua ba loại ô chữ cho ba đối tượng khác nhau. Nhưng chú ý là trước khi trẻ có bài kiểm tra về lịch sử thì cần mua loại câu đố chữ liên quan đến đề tài lịch sử. Cả nhà ngồi cùng một phòng nhưng mỗi người độc lập giải các ô chữ của mình. Tuy là giải trí cùng nhau nhưng mỗi người làm một việc. Như vậy bố mẹ cho con cái thấy là mọi thành viên trong gia đình đều có chung một mối quan tâm, song vẫn có thể thi đua xem ai là người đầu tiên giải được. Trẻ em rất thích không khí thi đua như thế. Chúng không có cảm giác là mình đang học, nhưng đây lại chính là cách rèn luyện năng lực tập trung đầu óc có tác dụng rất tốt đối với việc học hành của chúng ở trường cũng như ở nhà.
Có rất nhiều phương pháp, nhìn bề ngoài chỉ là các trò chơi nhưng thật sự giúp trẻ học tập tốt. Nhiệm vụ của các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo là lựa chọn phương pháp phù hợp. Có một nguyên tắc rất cơ bản, đối với người lớn cũng như đối với trẻ em: cái gì gây sự chú ý thì nó sẽ tự ngấm vào đầu. Ngày nay, ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, học sinh phải sống và học tập dưới sức ép của điểm số. Các bậc cha mẹ chỉ trông chờ ở chúng những kết quả học tập tốt. Các vị không quan tâm đến chuyện nếu cứ như thế, trẻ sẽ mất hứng thú và niềm vui học hành. Trong khi đó học thực chất là tìm hiểu thế giới. Cần chỉ ra cho trẻ thấy rằng những gì chúng đang học không phải khi nào cũng hấp dẫn, nhưng nhờ tập trung vào việc học, chúng hiểu biết hơn về thế giới xung quanh chúng, rằng cái kiến thức mà chúng đang từng bước tích lũy sẽ giải thích cho chúng hiểu những gì chúng quan sát thấy hàng ngày. Đây là việc đáng làm, bởi vì chúng ta dễ dàng thấm vào đầu những gì hấp dẫn chúng ta. Những người có niềm say mê bao giờ cũng tập trung đầu óc cho cái mình thích, ngốn kiến thức nhanh, biết đến từng chi tiết mà không cần cố gắng nhiều.
Chính vì vậy mà nhiệm vụ của các bậc làm cha làm mẹ là giúp đỡ con cái rèn luyện khả năng tập trung đầu óc trên cơ sở đó chúng sẽ tự nguyện và tự mình đến với tri thức.
Năng lực tập trung đầu óc để hoàn thành công việc hiệu quả, một chuyện tưởng như đã quá phổ biến, một điều kiện tưởng chừng ai cũng biết để nghĩ đến thành công trong bất cứ việc làm nào, nay bỗng dưng phải nêu ra, phải phân tích lại. Có chuyện này là do chúng ta sống trong những điều kiện mới của cuộc sống hiện đại. Đây đó chúng ta được nghe những câu cửa miệng: “Ở đây không thể tập trung làm được một việc gì” hay “Mọi người có để cho tôi làm việc không?”. Đổ lỗi cho khách quan kiểu này hiện nay có khi bị coi là thiếu năng lực tập trung đầu óc, là tự lấy đi cơ hội để tạo dựng cho mình đặc tính rất cơ bản làm nên thành công cho mỗi hoạt động, đó là tập trung tư tưởng trong mọi hoàn cảnh, bất kể điều kiện xung quanh thế nào. Cần phải nhắc lại rằng thiếu khả năng tập trung đầu óc không những không hoàn thành công việc được giao, từ việc đơn giản nhất là cắt cỏ đến việc khó nhất là soạn tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng, nhưng khó khăn hơn cả vẫn là bắt tay vào làm những việc nhằm hoàn thiện bản thân mình để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống, trong những điều kiện mới. Thời đại ngày nay là thời đại không ai, không cái gì có thể thành công một cách dễ dàng. Muốn có thành công phải đổ mồ hôi, phải không ngừng rèn luyện. Cái giá phải trả tuy lớn như vậy, song nếu có ý chí và nghị lực, chúng ta vượt qua khó khăn và vươn tới thành công.